Trang chủ

NHỮNG NHÂN VẬT HỌ TỪ NHÀ TÂY SƠN

NHỮNG NHÂN VẬT HỌ TỪ NHÀ TÂY SƠN
Tạm gác qua những giai thoại, những chuyện kể lại lời của người xưa, nếu dùng sách sử để tìm biết sự kiện giai đoạn 1771 – 1802 thì tưởng chừng chỉ khảo sát một chiều. Một thời gian dài những ghi chép dưới vương triều Nguyễn, được khắc in để phổ biến, đều là từ quan chức viết sử đương triều. Nhưng thật ra người xưa viết sử không hẳn là lắm tô hồng triều đại mình đang phục vụ, không hẳn là luôn tự dựng tạo sự kiện lịch sử để đánh lận hậu thế.

Với những ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn, có thể thấy được hai nhân vật họ Từ được ghi lại hành trạng có lắm duyên nợ với cả hai bên đối địch lúc bấy giờ. Loại trừ Đại Nam Liệt Truyện còn cần phải đối chiếu các tư liệu khác, xét theo ghi chép trong Đại Nam Thực Lục của triều Nguyễn:
● Về nhân vật Từ Văn Tú:
+ Vào tháng Sáu năm Canh Tuất 1790, Từ Văn Tú làm Tham Tán (xem như là Tham mưu trưởng bây giờ) của cánh quân nhà Tây Sơn từ Diên Khánh (Khánh Hòa) tiến vào Bình Thuận (gồm cả Phan Rang, Phan Rí) đánh đồn Nha Phân và Mai Nương. Tướng Lê Văn Quân của Nguyễn Ánh bị thua, tướng sĩ chết nhiều, sau xấu hổ tự vẫn. Nguyên trước Quân phò Định Vương Phúc Thuần, sau là thuộc tướng của Đỗ Thanh Nhơn, thường hiềm khích với Võ Tánh. Từng nắm đại quân nhưng lại để thất trận Bình Thuận, bị Võ Tánh khinh khi, Quân hận mà tự xử, Nguyễn Ánh giận khóc lấy roi đánh quan tài của Lê Văn Quân trách phạt.
+ Tháng Bảy năm Đinh Tị 1797, quân Gia Định ra đánh Quảng Nam, Nguyễn Ánh cho người tiếp cận Từ Văn Tú cậy khuyên Nguyễn Bảo, con của vua Thái Đức theo hàng. Binh Phú Xuân cất quân vào Quy Nhơn bắt lấy Nguyễn Bảo, có lẽ lúc bấy giờ Từ Văn Tú bị giết cùng với Tiểu triều Nguyễn Bảo.
● Về nhân vật Từ Văn Chiêu:
+ Chưa khẳng định được Từ Văn Chiêu về với Nguyễn Ánh chính xác năm nào, chỉ biết năm Giáp Dần 1794, Chiêu với chức hiệu Cai Cơ của nhà Tây Sơn đã là hàng tướng.
+ Tháng Giêng năm Ất Mão 1795, Từ Văn Chiêu được cho làm Phó vệ úy Vệ Ban Trực Tuyển Phong Tiền của quân Thần Sách. Phiên hiệu Quân Thần Sách là đội quân chủ lực của Nguyễn Ánh. Lúc bấy giờ Lê Văn Duyệt cũng chỉ mới là Vệ úy Vệ Diệu Võ của quân Thần Sách.
+ Tháng Sáu năm Mậu Ngọ 1798, Chiêu làm Vệ úy Vệ Dương Võ của quân Thần Sách.
+ Tháng Chín năm Kỷ Mùi 1799, Từ Văn Chiêu làm Thống chế Hữu Đồn của quân Ngự Lâm, là lực lượng vừa thành lập sau khi quân Nam chiếm lấy Quy Nhơn. Phiên hiệu quân Ngự Lâm được tổ chức giống như quân Thần Sách. Lúc bấy giờ Lê Chất là Thống chế Tả Đồn.
+ Tháng Bảy năm Canh Thân 1800, Từ Văn Chiêu đem 500 quân bản bộ quay trở lại với nhà Tây Sơn. Kể từ đây quân Nam thất điên bát đảo với Từ Văn Chiêu.
Trận Chợ Dã (vùng Bình Thạnh, Quy Nhơn bây giờ), Chiêu kịch liệt chặn cánh quân Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt không tiến lên được thành Bình Định giải vây cho Võ Tánh.
Trận Càn Dương (xã Cát Tiến bây giờ), Chiêu bắt sống Thống chế Phan Văn Kỳ và Vệ úy Nguyễn Văn Trí, giết tại trận 2 Vệ úy là Hoàng Phước Bảo và Hoàng Văn Tứ.
Trận Tân Quan (Thị xã Hoài Nhơn bây giờ), Chiêu phục binh ở Hang Dơi bắt giết Trung dinh quân Thần Sách Đô Thống chế Tống Viết Phước…
Quân Gia Định ai cũng căm hận Từ Văn Chiêu.
Sau Chiêu bị bắt với các tướng cùng Trần Quang Diệu lúc chạy ra Nghệ An. Từ Văn Chiêu bị giết ngay trong ngục vào tháng Sáu năm 1802.
● Từ Văn Tú ôm mối hoài bão triều Thái Đức mà chết vì kế ly gián của Nguyễn Ánh. Từ Văn Chiêu bị giết không cần chờ đem về Phú Xuân để dâng lễ hiến phù, như các tướng nhà Tây Sơn khác đã bị vào tháng Chạp 1802. Ngậm ngùi thay cho hai viên tướng họ Từ.
...
Nguồn : QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ
.
(Bức họa cổ thờ ở Từ Đường Họ Từ làng Trường Định)

CẤP HÀNH CHÁNH ĐỊA PHƯƠNG CỦA BÌNH ĐỊNH XƯA

CẤP HÀNH CHÁNH ĐỊA PHƯƠNG CỦA BÌNH ĐỊNH XƯA
Về cấp hành chánh địa phương ở Bình Định, sau khi chiếm lấy thành Đồ Bàn của người Chiêm, triều Lê lập các Đạo Thừa tuyên trên cơ sở các Lộ thời Trần, thời Hồ. Bình Định thời bấy giờ là phủ Hoài Nhơn thuộc Thừa Tuyên Quảng Nam. Lúc Nguyễn Hoàng vào Nam đã cải gọi Thừa tuyên thành Dinh (Doanh), thường mỗi Dinh coi sóc một phủ, nhưng Dinh Quảng Nam kế thừa nếp cũ quản lĩnh tới 3 phủ là Thăng Hoa (Quảng Nam), Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) và Quy Nhơn (Bình Định bây giờ).
Tương đương cấp Dinh có cấp Trấn. Trấn còn dùng để chỉ cho những địa phận miền biên viễn, là đơn vị quản hạt vùng mới thiết lập. Như vào năm 1698, khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập Dinh, lập Phủ, ở đây có 2 Dinh là Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Định), đến năm 1714, Mạc Cửu đem đất Hà Tiên xin nội phụ, Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận, và đất nầy thành Trấn Hà Tiên của vùng phía Nam Đại Việt. Hoặc như sau nầy vào tháng Chín năm 1799, khi chiếm được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đặt Dinh Bình Định thống quản phủ Quy Nhơn (tức phủ Hoài Nhơn thời Lê), nhưng sang đến 1808 lại đổi gọi Dinh nầy là Trấn Bình Định.
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ở Đàng Trong dưới Dinh có Phủ, dưới Phủ có nhiều Huyện, dưới Huyện có nhiều Tổng và Thuộc, dưới Thuộc và Tổng có Xã, Thôn, Phường, Ấp, Giáp, Sách, Nậu, Man, Trang…
Tổng là vùng cư dân lập ấp đã lâu đời, Thuộc là vùng mới khai phá, vỡ hoang dọc biển, ven rừng núi. Thường thì Phường ở trong Xã, Ấp ở trong Thôn, Trang là xã người Minh Hương tức cấp hành chánh quản lý người Hoa ở Việt Nam, chỉ quản lý dân không quản lý theo đất, vì bấy giờ người Hoa không được quyền đứng tên sở hữu ruộng đất ở Việt Nam. Cấp hành chánh quản lý người Hoa là Trang (tương đương Xã của người Việt), Thuộc (tương đương Tổng, Thuộc của người Việt) và Bang (tương đương Huyện của người Việt). Người Hoa do Vĩnh An trang tọa lạc ở Nước Mặn, Tuy Phước quản lý, nhưng có thể sống tại An Thái, là địa phương có An Hòa trang tọa lạc đang quản lý các họ người Hoa sinh sống nơi đây, hoặc trên Vĩnh Thạnh, hoặc tại ngay dưới Tuy Phước.
Ở Quảng Nam xưa có nhiều Thuộc chỉ gồm các Phường, có nhiều Tổng bao gồm cả Xã, Giáp, Phường, Man…
Ở Bình Định, khi Gia Long lập Địa bạ 1815, nơi đây những đơn vị hành chánh cấp thấp như Sách, Giáp, Nậu, Man không thấy nữa. Riêng Ấp vẫn còn phân biệt Ấp chánh hộ và Ấp khách hộ, là để phân biệt mức thuế điền thổ cũng như sai dư (thuế thân) có từ thời các Chúa. Dân địa phương lâu đời đã ổn định (chánh hộ) phải nộp cao hơn so với địa phương mới (khách hộ), nơi mà người khai phá còn phải luôn xê dịch hết vùng nầy đến vùng nọ.
Theo như Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết vào năm 1776, ở xứ Đàng Trong lệ thuế nộp tiền tiết liệu (nộp dịp Tết) thì hạng Tráng của Chánh hộ phải nộp giá trị 5 thưng gạo, hạng Quân 4 thưng, trong khi đó hạng Tráng của Khách hộ chỉ nộp giá trị 4 thưng, hạng Quân 3 thưng. Có sự chênh lệch trong đóng góp, nên do đây mà làng xã ngày xưa có tệ hay so bì, phân biệt đối xử với hạng khách hộ, dân ngụ cư.
Khi đến triều Minh Mệnh đã cho cải Ấp thành Thôn hết thảy, Địa bạ 1839 không còn thấy thể hiện trạng thái chánh hộ hay là khách hộ nữa.
...
Nguồn: QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ
(Bản đồ Tp Qui Nhơn năm 1930)

NÚI KỲ SƠN Ở TUY PHƯỚC

NÚI KỲ SƠN Ở TUY PHƯỚC
Ở huyện Tuy Phước ngày nay có cụm núi, vây quanh nó là các xã Phước Nghĩa, Phước Hiệp, Phước Sơn, Phước Thuận và TT Tuy Phước. Cư dân xưa gọi tên cho núi nằm trên đất thuộc làng mình, nên theo đó mà phía Bắc có hòn Phụng Sơn ngó xuống làng Phụng Sơn phía hướng Đông. Bên cạnh đó là hòn Xuân Sơn ngó lên làng Xuân Mỹ chếch hướng Tây, làng Mỹ Trung phía hướng Bắc. Phía Nam là làng Huỳnh Mai có hòn Mai Sơn và hòn Hàm Long của làng Phong Thạnh (Phong Đăng). Khúc giữa có làng Kỳ Sơn nên ở đây gọi núi là Kỳ Sơn, sách xưa Nhất Thống Chí thời Tự Đức có lẽ đã dựa vào đây mà chép tên nầy gọi chung cho cả cụm núi.
Núi Kỳ Sơn theo như Đại Nam Nhất Thống Chí diễn tả thì nơi phía Bắc đoạn “Đèo Cao”, có khối đá dáng hình chim Phượng nên tục gọi chỗ nầy là núi Phượng. Như vậy ở đây hẳn tên núi phải có trước tên làng.

+ Làng Phụng Sơn của xã Phước Sơn, đến bây giờ cũng không tường tận xưa trước nó tên gọi là gì, chỉ rõ là vào thời Gia Long nó đã có tên Phụng Sơn Công Bình khách hộ Ấp, thuộc thôn Phụng Sơn của Thuộc Thời Tú.
+ Còn làng Kỳ Sơn bên cạnh thuở bấy giờ mang tên Mỹ Thuận khách hộ Ấp, thuộc thôn Thanh Sơn.
+ Làng Huỳnh Mai thời Gia Long là Huỳnh Mai khách hộ Ấp thuộc thôn Long An,
+ Làng Phong Thạnh bấy giờ là Phong Đăng khách hộ Ấp thuộc thôn An Sơn,
+ Xuân Mỹ là Xuân Mỹ Thượng khách hộ Ấp thuộc thôn Long Triều,
+ Mỹ Cang là Xuân Mỹ Trung khách hộ Ấp thuộc thôn Mỹ Cang,
+ Mỹ Trung là Xuân Mỹ Hạ khách hộ Ấp thuộc thôn Mỹ Trung.
Ở phía Nam của cụm núi là Hòn Hàm Long (núi Úc), tương truyền có tảng đá rất lớn trông giống miệng rồng, có hàm trên hàm dưới, có phiến đá nhỏ đưa ra chính giữa giống như chiếc lưỡi. Thời các chúa Nguyễn, trên lưng chừng núi lại có ngôi đền cổ tên là Hàm Long, nên núi mang tên giống như trường hợp của núi Phụng. Nhất Thống Chí còn cho biết thuở xưa ở chân núi Phụng, cách chừng 30 bước có một cái hố, hình thế bằng phẳng, rộng ước vài ba mẫu. Bên hố mọc ra một khối đá lớn giống hình con Rùa, nên người đời gọi đây là hồ Rùa.
Như vậy các địa danh xưa của vùng núi Kỳ Sơn gồm đủ cả tứ linh: Long, Lân, Quy, Phụng, dưới mắt giới thơ văn lại có thêm hình ảnh núi Xuân, rừng Mai.
Non nước hữu tình có lẽ cũng hun đúc khí linh làm con người nơi đây thấm tình sông núi. Làng Phụng Sơn, Kỳ Sơn xưa có những người chỉ học vị Tú Tài, như Nguyễn Thế Hiển, Nguyễn Thế Lương, như ông Tú Nguyễn Diêu làng Nhơn Ân cũng về mở trường dạy học nơi đây. Xưa những ông Tú tài nầy đã làm rạng rỡ xóm làng, đâu thua gì những bậc đại khoa làm đất nước nở mày nở mặt với lân bang. Tú tài nhưng học rộng đức cao, được dân làng lập Nghĩa tự để thờ phụng, còn hơn áo mão cân đai màu mè Tiến sĩ giấy.
---------------
Nguồn : QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ

CHỢ GIÃ CỦA BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY Ở ĐÂU

CHỢ GIÃ CỦA BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY Ở ĐÂU
Nếu nói về Cửa Giã thì người Bình Định xưa có câu:
“Ai về cửa Giã chiều hôm
Măng le gởi xuống cá chuồn gởi lên”.

Nghe tên cửa Giã, nhưng nhiều người Bình Định hiện nay chắc gì biết được nó ở chỗ nào. Có thể suy ra được nó là một cửa biển nhờ vào món “cá Chuồn”, nhờ vào lưới cào, xưa đánh bắt bằng phương tiện nầy gọi là “kéo Giã”. Bình Định cũng có lắm cửa biển thì cửa Giã là cửa biển nào. Nếu dựa vào “Măng le” là một sản phẩm đặc thù của vùng Tây nguyên, thì Măng le gởi xuống cho cửa Giã, hiểu được chỉ có thể đó là cửa biển Quy Nhơn.
Với cửa Giã phải khổ công là vậy huống hồ là chợ. Chợ thì có mặt ở khắp nơi vùng hạ bạn. Đây đúng là điều khốn khó cho những nhà chép sử ngày xưa, và ngay cho cả những nhà biên dịch ngày nay.
Mấy nhà chép sử của Quốc sử quán triều Nguyễn có chép về một trận đánh giữa quân Gia Định của Nguyễn Ánh với nhà Tây Sơn vào tháng Tư năm Kỷ Mùi 1799:
+ Võ Tánh và Nguyễn Hoàng Đức đánh giặc ở Thị Dã. Thiếu úy giặc là Trương Tiến Thúy thua chạy. Bắt được 13 thớt voi. Quân giặc chết và bị thương rất nhiều. Đuổi đến cầu Tân An, chém được Đô đốc giặc là Nguyễn Thực. Vệ úy vệ Ban trực hữu quân Thần sách là Tôn Thất Nông chết trận.
Theo cách chép sử thì hiểu được trong trận nầy quân Nam đuổi đến cầu Tân An thì bên Tây Sơn bị mất một Đô đốc, bên nhà Nguyễn Gia Miêu cũng chết tại trận một Vệ úy của phiên hiệu quân Thần Sách. Có thể đoán định theo vị trí quanh cầu Tân An thì Thị Dã là Chợ Giã. Khốn nỗi những nhà biên dịch chua thêm, gọi nơi đây là Đồng Thị, Vì Dã [埜 hoặc 野] mang nghĩa là đồng nội.
Người Bình Định hiện nay đố ai rõ được Đồng Thị là nơi nào. Cái chết người ở đây là ngữ âm giữa GI và D của người Bình Định thông thường đều phát âm theo GI. Những nhà biên dịch người Bắc theo cách hiểu của mình đã chuyển ngữ Thị Dã của người chép sử ra làm Đồng Thị. Người chép sử đã không dùng chữ Nôm, còn người dịch cứ vậy mà làm, càng gây rối thêm cho người đọc sử.
Theo Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do Lê Quang Định khởi biên từ năm 1802, đã được nhà biên dịch Phan Đăng chép rõ ra tên “Chợ Giã”. Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định mô tả đường đến Chợ Giã trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí:
+ 444 tầm (tính từ Chợ Cẩm Thượng) … là đến Chợ Thượng Lộc (tục gọi Chợ Giã), hai bên chợ có quán xá rất đông đúc, khách đi đường có thể nghỉ lại đây. Ngày trước quân ta đại phá thủy quân Tư đồ Vũ Văn Dũng của Tây Sơn tại nơi này.
Như vậy với cứ liệu của Lê Quang Định, kết hợp thông tin mà Thực Lục đã chép thì trước trận hải chiến Thị Nại (1801), vào năm 1799 quân Nam đã đổ bộ lên được Chợ Giã, và từ đây Võ Tánh cùng Nguyễn Huỳnh Đức rượt đuổi quân Trương Tiến Thúy đến tận cầu Tân An, chỗ giáp ranh Phường Bình Định với thôn Huỳnh Kim trên QL 1 bây giờ. Chợ Giã là chợ của ấp Thượng Lộc Tứ Chánh, cách chợ Cẩm Thượng 444 tầm, tức khoảng 940m.
Đến triều vua Minh Mệnh, năm 1839 đã cải Cẩm Thượng Tứ Chánh ấp thành thôn Cẩm Thượng, cải Thượng Lộc Tứ Chánh ấp thành thôn Chánh Lộc, sau gọi là Chánh Thành. Dấu xưa chỉ còn biết đình Cẩm Thượng hiện ở phường Trần Hưng Đạo.
Chắc là Chợ Giã hồi ấy nằm đâu đó vùng Khu 2 của Quy Nhơn. Không chừng cũng có thể là Chợ Lớn Quy Nhơn, hoặc Chợ Chiều chỗ đường Nguyễn Huệ bây giờ, nơi nằm bên cửa Giã có cá Chuồn để trao đổi Măng Le của người miền ngược.
Người Bình Định hôm nay phần nhiều đã quên lãng dấu tích xưa, chỉ vì người ngày nay đâu còn lưu tâm những gì của ngày xa xưa cũ nữa.
----------
Nguồn : QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ
(Ảnh của cơ quan truyền thông Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia)

ĐOAN NGỌ MỒNG 5 THÁNG 5 ÂM LỊCH TẾT GIỮA NĂM CỦA NGƯỜI VIỆT

ĐOAN NGỌ MỒNG 5 THÁNG 5 ÂM LỊCH
TẾT GIỮA NĂM CỦA NGƯỜI VIỆT
Đoan Ngọ năm ngoái đã post bài trên face
Nay lược sơ, tóm tắt gọn lại.
(Phần minh chứng phải dẫn dài dòng. Có thể đọc toàn bài theo link ở comment thứ 1)
VÌ SAO GỌI THÁNG 5 ÂM LỊCH LÀ GIỮA NĂM
Cấu trúc lịch cổ theo tuần trăng hầu hết cả Á lẫn Âu, cũng như của người Việt đều chỉ có 10 tháng. Cải tiến lịch theo chuyển vận mặt trời cho phù hợp chu kỳ khí hậu, người Việt xưa áp dụng yếu tố Tiết Khí, mới biến lịch thành 12 tháng. Hai tháng thêm vào là Chạp và Giêng. Người Việt có câu nói về tuần tự của tháng là Một, Chạp, Giêng, Hai. Tháng Một ngày xưa bây giờ gọi là tháng 11, hay tháng Tý, lấy Chi đầu tiên trong thập nhị Chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo… để đặt tên cho tháng Một.
Ăn Tết Nguyên Đán tháng Giêng (tức tháng Dần) là theo Lịch Kiến Dần, Ăn Tết tháng Một là theo Lịch Kiến Tý. Không loại trừ người Việt cổ đã ăn Tết Nguyên Đán tháng Một. Vào triều Nguyễn vẫn còn có người Xứ Đoài, tỉnh Sơn Tây lấy tháng 11 âm lịch làm đầu năm mới. Đại Nam Nhất Thống Chí chép:
+ Thổ dân ở các huyện Bất Bạt và Mỹ Lương, hằng năm lấy tháng 11 làm đầu năm, hàng tháng lấy ngày mồng 2 làm đầu tháng và lấy ngày mồng 1 làm cuối tháng, gọi là tháng lùi ngày tiến, lại gọi là ngày nội, dùng trong dân gian, còn ngày quan lịch thì gọi là ngày ngoại, chỉ dùng khi có việc quan
VÌ SAO LẠI ĂN TẾT GIỮA NĂM
Là dân nông nghiệp lúa nước, người Việt có câu ca dao:
Tháng Chạp là tháng trồng khoai,
Tháng Giêng trồng đậu, tháng Hai trồng cà.
Tháng Ba cày vỡ ruộng ra,
Tháng Tư làm mạ mưa sa đầy đồng…
Tháng Tư làm mạ để chuẩn bị cho vụ Mùa, trong khi bước qua tháng Năm lại là tháng thu hoạch vụ Chiêm:
Tháng Năm gặt hái đã xong,
Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy

Trồng trỉa của người Việt, sau cây mưa sung vũ thường có vào tiết Tiểu Mãn hằng năm (21 tháng 5 dương lịch), là tới tiết Mang Chủng (ngày 5 hoặc 6 tháng 6 dương lịch) tức thời điểm phải tra giống, hoặc cấy hoặc gieo. Khoảng thời gian nầy, xét vào lịch đã cải tiến theo Tiết khí, biên độ xê dịch của ngày Mồng 5 tháng 5 âm lịch bao giờ cũng xoay quanh, hoặc trước hoặc sau tiết Mang Chủng. Như vậy ăn mừng vào giữa năm, xem như là lễ Tết, là mừng đã thu hoạch xong vụ Chiêm, mừng đã xuống được giống vụ Mùa.
NGƯỜI VIỆT XƯA ĂN TẾT GIỮA NĂM RA SAO
● Lao động nông vụ ngày xưa phải cần người. Ăn Tết Giữa năm ngày xưa là ngày đoàn tụ của anh em, con cháu trong nhà. Nếp xưa để lại, nên Cao Bá Quát làm quan ở xa không về được với gia đình trong ngày Đoan Ngọ, vào tiết Đoan Dương, ông đã thốt:
Mạc mạc gia hương lưỡng thân cách,
Thê thê ky hoạn nhất huynh dao…
(Đoan Dương – Cao Bá Quát)
Tạm hiểu:
Mờ mịt quê nhà xa phụ mẫu
Lăng xăng đất khách cách bào huynh…

● Trong ngày Tết Đoan ngọ xưa, vì vừa thu hoạch mùa màng nên chú Rể người Việt có tục mừng Cơm Mới cho gia đình vợ sắp cưới. Học trò còn có tục Sêu Tết cho Thầy dạy, vì lương phạn của những Thầy Đồ xưa chỉ nhờ vào thu hoạch suất ruộng công điền cấp cho mà tự canh tác.
● Tết Đoan ngọ người Việt thường dùng rượu nhẹ như rượu nếp, hoặc rượu ngâm thảo dược như thạch xương bồ, uống để điều hòa khí huyết trước thời tiết vừa mưa to vừa nắng gắt của tháng 5. Y kinh (sách thuốc) mô tả Thạch xương bồ là “loại cỏ trên đá, một tấc 9 cành, làm thuốc rất hay, uống lâu thành tiên”. Có phải vì vậy không mà ngày Đoan ngọ xưa dân gian đã có tục uống rượu gọi là để diệt trùng bọ ở trong người, nên Tết nầy xưa đã gọi là “Tết Giết Sâu Bọ”.
● Hoặc là vào ngày nầy, mọi người thường đi hái lá thuốc về tắm rửa cho thông huyết mạch, tránh cảm mạo trong tiết Đoan dương. Để rồi từ đó mới thêu dệt, du nhập, lưu truyền chuyện Lưu Thần, Nguyễn Triệu hái thuốc gặp tiên. Người Việt xưa còn lấy lá ngải bện treo trước cửa để ngăn khí độc vào ngày Đoan ngọ.
Kiểu dùng tơ ngũ sắc buộc vào cánh tay, mặc áo dấu, cột chỉ ngũ sắc vào bánh, gọi là dùng để cúng cho Khuất Nguyên… đó vốn là là tập tục ngoại lai, chúng đã du nhập theo hướng trừ ma, trấn quỷ, mang màu sắc tà thần, theo như mô tả của Ức Trai Nguyễn Trãi trong bài thơ Đoan Ngọ Nhật – Ngày Đoan Ngọ:
Thiên trung cộng hỷ trị giai thần
Tửu phiếm xương bồ tiết vật tân
Tiến thiếp đương niên tư Vĩnh Thúc
Trầm Tương để sự thán Linh Quân
Tịch tà bất dụng ty triền tý
Tùy tục liêu vi ngải kết nhân
Nguyện bả lan thang phân tứ hải
Tòng kim táo tuyết cựu ô dân
(Đoan Ngọ Nhật – Nguyễn Trãi)
Tạm hiểu nghĩa:
Cùng mừng nhau giữa trưa gặp được ngày giờ quý
Rượu ngâm xương bồ là món mới cho ngày tết, rót uống chơi
Nhớ năm ấy Vĩnh Thúc (Âu Dương Tu) can vua mà dâng sớ
Thấy thương cho Khuất Nguyên trầm mình xuống Tương giang
Không dùng chỉ ngũ sắc buộc ở cánh tay để trừ tà
Tạm lấy lá ngải bện thành hình nhân theo phong tục
Nguyện mang nước thơm mộc lan rải chia bốn biển
Để từ nay rửa sạch cái ô nhục trước đây của tứ dân.
● Tết Đoan ngọ. Xét ra ở vào cái thuở mà canh tác, nước nôi đều trông cậy vào thiên nhiên, vào mưa nắng… thu được mùa, xuống được giống, sao lại chẳng ăn mừng. Ăn mồng 5 tháng 5 âm lịch. Ăn cái Tết vào giữa năm. Ăn Tết thì đâu để riêng tưởng nhớ người đã trầm mình xuống giòng Mịch La, cũng đâu phải để nhắc đến chuyện mấy anh đi hái thuốc vô tình lạc chốn thiên thai. Những mắm muối ấy chỉ là những gia vị nêm thêm vào món ăn đã sẵn có.
Ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch hiện giờ chỉ còn đáng quan tâm về khái niệm đây là ngày giết sâu bọ của người Việt xưa. Những con sâu con bọ trong tâm, con người không tự giết nó trước, chắc chắn việc sống chung với loài sâu bọ là điều không tránh khỏi.
-----------------
Nguồn : QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ

NÚI ÔNG BÌNH

KHI ÔNG BÌNH ĐỘI MŨ
Bình là tên gọi tắt của Nguyễn Quang Bình, còn được biết dưới tên từng làm vỡ mật lân bang là Quang Trung Đại Đế - Nguyễn Huệ.
Ông Bình là danh xưng người địa phương Tây Sơn chỉ cho Hòn núi nằm phía phải đèo An Khê. Phía trái đèo là Hòn Nhược, gọi trại tên của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc. Đỉnh đèo An Khê nay là phân thủy ranh giới giữa Bình Định và Gia Lai. Từ xa xưa đèo theo ngữ âm của người Bhanar gọi là đèo Mang, có nghĩa là Cổng, là Cửa ngõ. Đôi ba chục cây số phía trên kia với bình độ cao hơn có đèo Mang Yang, nghĩa là Cổng Trời.
Khi Ông Bình đội mũ là hình tượng hòn Ông Bình có mây từ trên cao nguyên kéo xuống đây vần vũ quanh đỉnh núi. Cho nên xưa người Thượng Sơn cùng với Thượng Giang (Thượng Sơn trước kia là một xóm của làng Thượng Giang) thường nói với nhau “Khi Ông Bình đội mũ là trời sắp mưa”.

+ Tên Ông Bình ở đây vẫn còn lưu lại trong tâm thức những nông dân quanh năm cần nước nôi cho đồng lúa “Lạy trời mưa xuống / Lấy nước tôi uống / Lấy ruộng tôi cày”.
+ Tên Ông Bình còn lưu lại trong sách sử nhà Nguyễn như Đại Nam Nhất Thống Chí miêu tả núi Lỗ Tây:
« Núi Lỗ Tây ở thôn Thượng Giang về phía Tây Bắc huyện, gần về phía Nam có núi Miệt Sơn, phía Tây Bắc có núi Lỗ Dương, núi Thạch Sơn, núi Lý Văn. Lưng núi có đường đi đến đường An Khê, phía Bắc đường có núi Bà, núi Dừa, núi Độc, núi Cái Đính. Lại ở thôn Định Chiêu về phía Tây Bắc huyện Tuy Viễn có núi “Bình Sơn”, núi “Nhạc Sơn”, lưng núi đều có đường đi đến An Khê ».
Khi nhà Tây Sơn khởi nghiệp ở An Khê. Hòn Bình là lũy trại của Nguyễn Huệ, Hòn Nhược là lũy trại của Nguyễn Nhạc. Triều Nguyễn cũng hay là ghi chép tên dân gian đặt cho núi theo tên 2 thủ lĩnh của nhà Tây Sơn. Thù hằn nhưng đâu có tiểu tâm xóa vết tích đối phương.
Người địa phương ở đây nay chỉ còn biết Lỗ Tây, hòn Ông Bình, hòn Ông Nhạc, chỉ biết Định Nhì, Định Trung, Định Quang là Định Chiêu xưa. Và người nơi đây nay chỉ còn biết dậm cẳng kêu trời, rừng đâu còn để cho Ông Bình đội mũ đưa giọt nước xuống cho nông phu.
------------
Nguồn: QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ

ẢI NAM QUAN

ẢI NAM QUAN: xưa & nay!
Ngày xưa đi học cấp 1, bài tập đọc cô giáo bắt thuộc lòng: nước ta bắt đầu từ Ải Nam Quan...
Lớn lên chút, đọc sách sử biết câu chuyện Nguyễn Trãi tiễn cha là Nguyễn Phi Khanh ở Ải Nam Quan với lời dặn đẫm nước mắt: về lo cứu nước cứu dân đang rên xiết dưới ách cừu thù, ấy mới là cái hiếu của kẻ sĩ phu...
Mặc định trong đầu từ thủa xa xưa thơ ấu, Ải Nam Quan là ranh giới, là nơi phân định nước Bắc- Trung Quốc, với nước Nam- Việt Nam đã tự ngàn đời nay...

Ảnh chụp thời Pháp thuộc còn lưu lại rành rành kia: cửa ải và những bức tường chạy dài về hai bên, phân định rõ ràng biên cương lãnh thổ. Tôi cũng không có điều kiện để nghiên cứu cái hiệp định Pháp- Thanh về phân chia lãnh thổ hai bên, nhưng tôi tin chắc rằng khi ấy người Pháp cùng triều đình nhà Thanh đã tôn trọng lịch sử mà lấy Ải Nam Quan làm cột mốc đường biên giữa hai nước...
Lịch sử quan hệ Việt Nam- Trung Quốc từ thế kỷ 19, 20, 21 nay là một giai đoạn rất hỗn loạn. Có lúc như thiên tử với chư hầu, có lúc độc lập, có lúc đối đầu không đội trời chung, lại có lúc anh em môi răng thắm thiết rồi... lại quay ra cắn xé nhau!
Gần đây nhất, sau cuộc chiến 1979 mà rốt cuộc cả hai bên đều thấy phi lí, bèn quay ra làm lành: hội nghị Thành Đô mở đầu, rồi tiếp theo là vô vàn các cuộc thăm viếng hiếu hỉ các cấp với những ôm hôn thắm thiết, tay bắt mặt mừng...như chưa hề có chuyện mấy vạn sinh linh hai nước chết oan uổng, như chưa hề có vụ coi nhau là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất!
Rồi một ngày không biết xấu hay đẹp, thấy nhà nước công bố Hiệp định phân định biên giới trên bộ Việt -Trung đã hoàn thành!
Kẻ này vốn nhẹ dạ cả tin, tin rằng thế này thì hòa bình vĩnh viễn rồi. Rằng Ải Nam Quan đầy máu xương và nước mắt xưa nay sẽ thành Hữu Nghị Quan hòa hiếu muôn năm...
Bèn làm tua du lịch đường bộ đầu tiên sang Trung Quốc qua ngả Bằng Tường...
Hỡi ôi thất vọng!

Qua cửa khẩu làm thủ tục xong, nhìn mãi chả thấy Ải Nam Quan xưa đâu. Hỏi hướng dẫn viên, nó bảo cứ đi thẳng về phía trước sẽ thấy: kẻ này đã kéo vali đi bộ mướt mải mới tới Ải Nam Quan xưa, nay hoàn toàn nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc! Ngay lúc đó đã nhiều người phẫn nộ, lắc đầu ngao ngán...
Đất đai của ông cha, giao cho ai đó thay mặt nhân dân quản lý mà tùy tiện đem xén, đem cho, đem bán cho nước người cứ như không! Cứ như là những tấc đất mét núi dặm sông biển trời kia chưa từng ngấm máu và mồ hôi của con dân Việt trải từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn cho đến nay khai phá bồi đắp giữ gìn mà nên được non sông gấm vóc này!
Ôi, Ải Nam Quan xưa đã vĩnh viễn chỉ còn trong sử sách! Mỗi lần muốn chiêm ngưỡng dấu tích cổ xưa của biên giới nước Việt ta lại phải mua vé du lịch sang nước "bạn", mới được ngắm cảnh xưa và mong gặp lại hồn cố nhân...
Ai làm ra nỗi này?

Rồi đây tất cả những kẻ đó sẽ phải chịu sự phán xét nghiêm khắc của nhân dân và lịch sử!
Không một điều gì bị lãng quên. Và cũng không một kẻ nào dù quyền cao chức trọng đến đâu mà che giấu được bất cứ hành động nào của họ. Đặc biệt là những việc liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, vận mệnh quốc gia. Tất cả sẽ bị lột trần dưới ánh mặt trời với sức mạnh vô biên của thời gian!

Nguồn: Canh TranThanh

NÚI NON BÌNH ĐỊNH TRONG THƯ TỊCH CỔ

NÚI NON BÌNH ĐỊNH TRONG THƯ TỊCH CỔ
1) THỔ SƠN VÀ ÚC SƠN
Danh sơn không chỉ là núi non kỳ vỹ, mây nước hữu tình. Một ngọn núi, một bìa rừng, một cội cây, ngọn cỏ thoáng có bóng dáng người xưa cũng đủ để lưu tên núi trong tâm khảm.
Phủ Quy Nhơn ngày xưa từng là chiến trường của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn Gia Miêu, nên núi non ở đây đẫm hằn máu đỏ, lưu dày tiếng kêu than của người Bình Định. Sao lục thư tịch cổ viết về nước non Bình Định là để sống với người xưa, để cùng người nay biết rõ và thương yêu hơn sông núi của mình.

● THỔ SƠN VÀ ÚC SƠN
Thổ Sơn, tên nôm na là một hòn Núi Đất. Ở khắp nơi đều dẫy đầy tên Núi Đất, không riêng gì ở Bình Định. Trong chiến trận 1793 ở phủ Quy Nhơn (Bình Định), Quốc sử quán triều Nguyễn có chép về Thổ Sơn và Úc Sơn trong Đại Nam Thực Lục:
● Tháng 6 năm Quý Sửu, Võ Tánh đánh vỡ quân giặc ở cầu Tân Hội. Giặc lui về Úc Sơn, giữ chỗ hiểm đặt quân phòng thủ… Vừa gặp bộ binh của bọn Tôn Thất Hội theo hai đường Hà Nha và Cù Mông kéo đến. Giặc Nguyễn Văn Bảo bèn đặt liền đồn trại từ Thổ Sơn đến Úc Sơn để chống quân ta. (Tr 317, Tập I)
Úc Sơn hay núi Úc, là hòn Hàm Long ở địa giới giáp ranh Phong Thạnh (TT Tuy Phước) và Thuận Nghi (Tp Quy Nhơn), chỗ cầu Trường Úc bây giờ. Trong chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Gia Miêu, nhà Tây Sơn có lập một phòng tuyến ở núi Úc để ngăn chặn thủy bộ binh Gia Định tiến lên thành Hoàng Đế (giờ thuộc xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn). Phòng tuyến cầu Tân Hội chỉ ngăn quân Nam đổ bộ lên Chợ Giã (Tp Quy Nhơn), phòng tuyến Úc Sơn là lớp thứ hai, ngăn được cả thủy binh từ đầm Thị Nại tiến lên theo ngả sông Tọc, chặn được cả bộ binh quân Nam nếu vượt được Cù Mông tiến ra, hoặc ngả đèo Cù Mông QL1A ra ngõ Phú Tài, hoặc ngả đường 19C (Hà Nha) ra ngõ Diêu Trì.
Nguyễn Văn Bảo (Nguyễn Bảo) là con của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, trong chiến trận Quý Sửu 1793 đã đóng liền đồn lũy từ Thổ Sơn đến Úc Sơn để chống cự với quân Gia Định. Như vậy Thổ Sơn có vị trí chiến lược quân sự gắn liền với phòng tuyến núi Úc, gắn liền với con đường có núi Úc và thành Hoàng Đế. Thổ Sơn hiện ở vị trí nào ngày nay?
Xét về Núi Đất – Thổ Sơn, ở mục Tháp cổ trong Đại Nam Nhất Thống Chí cũng của Quốc sử quán triều Nguyễn chép về cụm Tháp Thị Thiện ở Bình Định :

● “Tháp Thị Thiện gồm có 4 cái ở trên núi Đất, chỗ giáp giới 4 thôn Đại Lộc, Huỳnh Kim, Vạn Bảo, Phong Niên” (tr43, Tập III).
+ Đại Lộc nay là thôn Đại Lễ, xã Phước Hiệp, Tuy Phước.
+ Huỳnh Kim nay thuộc phường Nhơn Hòa, Thị xã An Nhơn
+ Vạn Bảo nay là thôn Phú Mỹ, xã Phước Lộc, Tuy Phước.
+ Phong Niên nay thuộc thôn Phong Tấn (ghép tên xưa của 2 thôn Phong Niên và Tấn Lộc), xã Phước Lộc, Tuy Phước.
Thổ Sơn trong chiến trận 1793 là núi Thị Thiện ngày nay, là một ngọn đồi bên cạnh cầu Gành, còn gọi là cầu Bà Di. Trên núi có cụm tháp cổ Chiêm Thành, người Pháp gọi là Tháp Bạc (Tour d'argent ), người địa phương còn gọi là Tháp Bánh Ít. Bên sườn núi phía Đông có Tu viện Nguyên Thiều, là trường Trung cấp Phật học Bình Định xây dựng từ hồi năm 1958.
-------------------
Nguồn: QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ

CẦU ĐÔI TP. QUY NHƠN, TÊN GỌI CÓ TỪ BAO GIỜ

CẦU ĐÔI TP. QUY NHƠN, TÊN GỌI CÓ TỪ BAO GIỜ
Cầu Đôi ở Thành phố Quy Nhơn, gồm một cầu đường bộ và một cầu đường sắt khởi từ Ga Diêu Trì xuống cảng. Hai cầu nằm song đôi với nhau, kề bên là Tháp Đôi, tháp cổ Chiêm Thành gồm 2 cái đã chừng nghìn năm tuổi. Ở đây hình ảnh đủ cặp đủ đôi đi liền, khiến cho bao câu ca xưa đã vin vào đó mà khơi duyên chuyện tình đôi lứa:
Cầu Đôi liền với Tháp Đôi,
Quanh năm suốt tháng như tôi với nàng.
Bấy lâu hầu như ai cũng cho rằng tên gọi Cầu Đôi, nó có khi người Pháp xây dựng đường sắt ở đây vào quãng thập kỷ 20, 30 của thế kỷ trước. Thực ra danh xưng Cầu Đôi đã có từ trước xa.
Trong chiến tranh giữa nhà Tây Sơn với họ Nguyễn Gia Miêu, sách sử nhà Nguyễn đã chép nó với tên là cầu Tân Hội. Nhà Tây Sơn đã lập phòng tuyến cầu Tân Hội để chống cự với quân Gia Định suốt các chiến trận từ 1793 đến 1801.
+ Như trong chiến trận 1793, tháng Sáu, Võ Tánh sau khi phá vỡ phòng tuyến cầu Tân Hội rồi tiến lên đánh với Nguyễn Bảo, con của vua Thái Đức ở cánh đồng Bình Thạnh:
● Quân ta tiến đến cánh đồng Bình Thạnh. Giặc Nguyễn Văn Nhạc sai con là Nguyễn Văn Bảo (ngụy xưng là Tiểu triều) đem quân tinh nhuệ và voi đực ra thành đánh. Quân ta đánh cho chạy (tr 317, Thực Lục Tập I)
Cánh đồng Bình Thạnh là quãng khu vực ngả ba Ông Thọ lên tới Chợ Dinh. Ở ngả ba Ông Thọ hiện nay vẫn còn đình làng Bình Thạnh. Rõ ràng phòng tuyến cầu Tân Hội nằm xa phía dưới cầu sông Ngang, cầu Chợ Dinh.
+ Như trong chiến trận 1800 – 1801, tháng 4 năm 1800 Nguyễn Ánh đưa đại quân ra giải vây cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở thành Bình Định, đã gặp sức kháng cự kịch liệt của 2 tướng Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng tại đây. Tháng Giêng năm 1801, sau trận đại hải chiến Thị Nại, quân Nam đổ bộ lên Chợ Giã (Quy Nhơn), tháng Ba, cánh quân của Lê Văn Duyệt đánh trận cầu Tân Hội:

● Tướng giặc Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng sai đồ đảng đặt đồn bảo liên tiếp ở Phú Hòa, cầu Đông Giang, cầu Tân Hội để chống cự quân ta. Vua sai Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Khiêm đem quân đánh … quân giặc tán loạn, bắt được Đô đốc Nguyễn Bá Phong. Vệ úy Vệ Ban Trực tả là Võ Văn Tài trúng đạn chết ở đồng Bình Thạnh, sau tặng Chưởng cơ. (Tr 465, Thực Lục Tập I)
Làng Phú Hòa nay vẫn còn tên. Phía trong cầu Đôi có đầm Phú Hòa, hay còn gọi là đầm Thanh Cẩn. Phía ngoài cầu Đôi là núi Hưng Thạnh hay núi Tháp Đôi, là ngọn đồi mà chính Nguyễn Ánh cho quân lên theo dõi động tĩnh của quân Tây Sơn ở phòng tuyến cầu Tân Hội:
● Vua đến cầu Tân Hội, hạ lệnh cho các quân chia đắp đồn bảo, đối lũy với giặc. Sắc từ nay hễ có báo động ban ngày thì treo cờ hiệu ở trên núi, ban đêm thì đốt đài lửa hiệu, để biết mà tiếp ứng nhau. (Tr 465, Thực Lục Tập I)
Đại Nam Nhất Thống Chí, sách viết vào đời Tự Đức chép tên ngọn núi này:
● Núi Hưng Thạnh: ở thôn Hưng Thạnh, [nằm] phía Đông huyện và phía Bắc Khổ Sơn, có tên nữa là núi Độc Lập, chân núi có đền Bao Trung, phía Tây giáp Cầu Mới, phía Bắc có rừng. Năm Tân Dậu đầu đời Trung hưng [1801], sau khi quân ta đánh được Thị Nại sai các tướng chia nhau đóng đồn và đắp lũy đối diện với giặc, vua sắc rằng: Mỗi khi có động, ban ngày thì treo cờ ở đỉnh núi, ban đêm đốt lửa làm hiệu để tiện tiếp ứng, tức là núi này. (Tr. 25, NTC Tập III)
Và Nhất Thống Chí cũng có chép về cầu Tân Hội:
● Cầu Tân Hội: Ở chỗ hết nước của đầm Biển Cạn thuộc huyện Tuy Phước, tục gọi là CẦU ĐÔI. Năm Quý Sửu (1793) đầu đời Trung Hưng, Võ Tánh phá quân giặc, năm Tân Dậu (1801) Lê Văn Duyệt đánh nhau với giặc, bắt được Đô đốc giặc Nguyễn Bá Phong, đều ở chỗ này. (Tr. 52, NTC Tập III)
Đầm Biển Cạn là tên gọi khác của Đầm Thị Nại. Trước đó, Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định soạn năm 1803, hoàn thành năm 1806 cũng có nói về cầu Tân Hội ở chỗ cuối của đầm Biển Cạn:
● Từ cầu sông Phú Hòa Đông, đường chạy dọc theo phía Bắc sông, phía Nam là ruộng đất cát, đến cầu Tân Hội, cầu dài 23 tầm (quãng 48m), tục gọi là CẦU ĐÔI, đây là chỗ cuối của đầm Biển Cạn. (chép lại Trang 249, HVNTDĐC)
Phú Hòa Đông là tên làng Phú Hòa vào thời Gia Long. Như vậy các sách triều Nguyễn đều khẳng định xưa Cầu Tân Hội tục gọi là Cầu Đôi.
Nói tóm lại, cầu Đôi ở thành phố Quy Nhơn nó đã mang tên gọi trong dân gian từ hồi xa lơ xa lắc, có thể nó đã có trước khi là nhà Tây Sơn dấy nghiệp ở phủ Quy Nhơn.
Đã mấy trăm năm cây Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi là hình tượng của nhân nghĩa, của tình thương đã ăn sâu vào tâm thức người Bình Định:
Cầu Đôi mà Tháp cũng Đôi
Dễ chi nhân nghĩa mà dời được sao
-------------------------------------------
Nguồn : QuangTrung BinhKhe, Lâm Nguyệt Nữ

ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH HOÀNG ĐẾ

ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH HOÀNG ĐẾ NĂM 1778
CỦA SỨ ĐOÀN NGƯỜI ANH
Năm 1778, Charles Chapman, nhân viên của Công ty Đông Ấn thuộc Anh ở Bengal, được ủy nhiệm của Toàn quyền Anh nơi đây đã dẫn đầu một phái đoàn đến Xứ Đàng Trong. Mục đích của sứ đoàn là tìm kiếm cơ hội giao thương, bên trong ẩn giấu việc mở rộng sức ảnh hưởng lâu dài, không chỉ riêng là mở thương điếm.
Tàu Amazon và Jenny của phái đoàn Anh quốc cập cảng Quy Nhơn vào ngày 13 tháng Bảy năm 1778. Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cho phép sứ đoàn người Anh được diện kiến ở triều đình. Triều đình nhà Tây Sơn đang đóng ở thành Hoàng Đế, hiện nay thuộc xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn.
Chiều tối ngày 22 tháng Bảy, Chapman lên bờ, nghỉ đêm ở nhà Quan trấn cảng. Đêm đó sứ đoàn người Anh đã được chiêu đãi bằng điệu múa của một đoàn vũ nữ. Charles Chapman thật thú vị khi lần đầu tiếp xúc với cách tán thưởng những màn trình diễn của xứ Đàng Trong ở đây.
Chapman chép trong Tường trình:
● “Lúc bắt đầu chương trình tiêu khiển này, Quan trấn cảng đã mang một vài xâu tiền đưa cho chúng tôi. Ông nói khi nào chúng tôi tán thưởng bất kỳ tiết mục nào thì ném chúng cho người biểu diễn".
Chapman đã phải mất 18 – 20 đô la Tây Ban Nha cho trò tán thưởng này.
8 giờ rưỡi sáng hôm sau, sứ đoàn khởi sự lên đường. Từ Quy Nhơn lên thành Hoàng Đế, Chapman nằm võng cáng, viên thư ký riêng và 2 tùy tùng đi bằng ngựa, theo sau là nhóm dân phu gánh mang tư trang và tặng phẩm của sứ đoàn.
Tường trình của Chapman về Sứ Mệnh Đến Xứ Đàng Trong cho biết: (Tr 39)

● “Thoạt đầu chúng tôi đi dọc theo bờ một dòng sông lớn, rồi đến một thung lũng trồng trỉa màu mỡ, núi cao bao quanh khắp mặt”.
(Our route at first lay along the banks of a considerable river till we entered a well cultivated valley which appeared encompassed on all sides with high mountains).
Khởi đầu sứ đoàn người Anh đi dọc theo bờ một dòng sông. Không con sông nào khác hơn là nhánh Hà Thanh chảy xuống cầu sông Ngang ra ngõ cầu Đôi bây giờ. Điều nầy trùng khớp với mô tả vào năm 1806 của Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định về đường nội Dinh Quy Nhơn.
Theo Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí của Lê Quang Định, từ cửa Nam Trấn thành Quy Nhơn (thành Hoàng Đế trước đó) là đường đến điếm Vĩnh Thế. Từ đây có nhánh rẽ sang Đông xuống đồn cửa Thị Nại (Bãi Nhạn Quy Nhơn), có đoạn đi dọc ven sông Phú Hòa Đông, đến cầu Tân Hội tục gọi cầu Đôi, theo đó đi qua Tháp, trước mặt Tháp có miếu thờ công thần, rồi đến Cẩm Thượng, Chánh Thành.
Phú Hòa Đông là tên vào thời Gia Long của làng Phú Hòa bây giờ. Cẩm Thượng nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, Chánh Thành thuộc phường Lê Lợi của Tp. Quy Nhơn.
Tiếp theo sau đó là "đến một thung lũng trồng trỉa màu mỡ, núi cao bao quanh khắp mặt".
Không thể nào khác hơn là vùng đồng bằng Vinh Thạnh, Vĩnh Hy của xã Phước Lộc với núi bọc chung quanh, nào Kỳ Sơn, núi Úc, núi Phủ Sơn, núi Quảng Tín, núi Thị Thiện (Thổ Sơn)…
Điếm Vĩnh Thế chép trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí nay thuộc thôn Vĩnh Hy. Vĩnh Hy là thôn ghép tên 2 làng xưa Vĩnh Thế và Gia Hy.
Vượt qua thung lũng với ba, bốn làng khá trù phú, Chapman thấy ở trên đường, làng nào cũng như làng ấy đều có công quán (Chapman gọi là public houses). Theo nhận xét của Chapman, quán bán nước chè tươi loại kém giá trị thương phẩm (chắc là nước trà lá vối), trái cây, cùng với thức ăn thức uống cho khách bộ hành.
Đúng trưa, tại một quán như vậy đã chuẩn bị sẵn bữa dành cho Quan hướng đạo đồng hành với sứ đoàn Anh quốc. Chapman chép trong Tường trình:
● “Chúng tôi đã cùng tham dự và chi trả cho bữa tiệc. Nó gồm thịt gà cắt ra từng miếng nhỏ bóp muối, phủ lên một ít rau xanh, vài món cá và trà”.
Đến 4 giờ chiều, đoàn mới tiếp tục cuộc hành trình. Khi đến được một làng khác thì trời đã tối om. Chapman hỏi biết chỉ chừng một giờ đi ngựa nữa là kịp đến cung điện của nhà vua, nhưng viên quan hướng đạo đề nghị ở lại đây nghỉ qua đêm, vì đã quá muộn để được phép đi vào trong Hoàng thành. Sứ đoàn phải chấp thuận, vì ngay cả dân phu cùng hành lý còn ở tận phía sau chưa đến kịp.
Chưa thể khẳng định sứ đoàn người Anh ăn trưa cùng với quan hướng đạo ở tại làng nào hiện nay. Nhưng hình dung ra được hành trình tiếp theo của sứ đoàn người Anh theo đường quan lộ, đường Thiên lý triều Nguyễn sau nầy. Từ xã Phước Lộc họ đi tiếp lên cầu Gành, cầu Tân An, sau đó là Chợ Gò Chàm phường Bình Định bây giờ, rồi cầu Đập Đá. Và nghỉ đêm ở đâu đó chắc có lẽ là quãng từ chợ Gò Chàm (Lam Kiều Thị) tới Đập Đá (Thạch Yển), cung đường chỉ một giờ đi ngựa là đến thành Hoàng Đế.
Tối đó, phái đoàn người Anh phải một đêm mất ngủ vì có đám cháy gần đấy. Chapman than vãn:
● “Tiếng tre nứt nổ và tiếng mọi người kêu la ra sức dập tắt nó, chẳng hứa hẹn tốt đẹp chút nào cho giấc ngủ chúng tôi”.
Rạng sáng hôm sau, ngày 24 tháng Bảy năm 1778, sứ đoàn người Anh tiếp tục lên đường, họ đi dọc theo một con đường gồ ghề xuyên qua những đồng lúa, vượt qua một vài cây cầu xây yếu ớt. Khoảng 8 giờ họ đã thấy bóng dáng Hoàng thành của triều đình vua Thái Đức Nguyễn Nhạc.
------------------------
Nguồn : QuangTrung BinhKhe